HOÀNG VŨ THUẬT
Hoàng Vũ Thuật là tên thật, cũng là bút danh, sinh năm 1945 sinh năm 1945 tại làng Thạch Xá Hạ, xã Hồng Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.
Các tập thơ đã xuất bản:
- Những bông hoa trên cát (thơ, 1979)
- Thơ viết gửi mùa hạ (thơ, 1984)
- Gửi những ngọn sóng (thơ, 1986)
- Giàn bí đỏ (Thơ, 1987)
- Thế giới bàn tay trái (thơ, 1989)
- Cỏ mùa thu (thơ, 1994)
- Đám mây lơ lửng (thơ, 2000)
- Tháp nghiêng (thơ, 2003)
Các giải thưởng đã nhận:
- Giải thưởng văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên (1976-1984), Bông Sen Trắng (1984-1988)
- Giải thưởng văn học nghệ thuật Lưu Trọng Lư tỉnh Quảng Bình (1991-1995; 1996-2000)
- Giải thưởng cuộc thi thơ văn “Quyền trẻ em” do Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam và Radda Barnen tổ chức
- Giải thưởng cuộc thi thơ Báo Văn nghệ (1981-1982; 1995)
- Giải thưởng Tạp chí Văn nghệ Quân đội (1998-1999)
- Tặng thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2004 với tập thơ Tháp nghiêng
(Nguồn: Thi Viện)
Như chiếc lá khan buồn mất ngủ
Trên nhành cây cạn kiệt thân hình
Ta ngù ngờ u mê ương dại
Thế giới là ai
Và ta nữa là ai.
Giới thiệu một số bài thơ của Hoàng Vũ Thuật:
HOÀNG AN
ngấn sóng vòng tay biển để lại trên vai
để lại bóng hình thanh tân của gió
vụt hiện tan chảy mất hút
trải dài chữ S bãi cát Hoàng An
chẳng thể bắt níu những sợi tóc vào mùa không người tuốt chải gặt hái
anh cắt dán cánh đồng lên thân thể em
điều phối cơn mưa
vá víu vết thương cuối hạ
xứ sở hiếm mặt trời
chỉ thấy nụ cười kéo anh qua ngã tư đường
ánh nắng ló từ khuôn ngực
từ âm thanh tiếng Việt đa sắc
từ vầng trán đóng đinh bật máu môi anh
đó là ảo ảnh phía sau hiện thực
giờ thì anh trồng thêm gốc cây
thuộc loài bạch dương chờ đông sang phủ tuyết
nào có gì ổn định
rồi con sóng tiếp tục xô đổ anh
lúc anh là cát
những con sóng siêu hình lau sạch gương mặt cũ
như chén rượu đêm ấy
chặng cuối.
12/8/2006
CÁI CHẾT
cái chết được thử nghiệm
I rắc
giờ thì Li Băng
máu xoáy sẹo đen lòng biển
những ngày thảm khốc tôi vùi chân bên dòng Nêva
chẳng đủ để răn dạy kẻ khác
cuộn tròn mình lo lấy thân xác hơn chăng
ngày anh tôi không về
tôi đứa trẻ chỉ biết hát
thác máu dát đỏ cung điện Mùa Đông
máu chảy trên hè phố tôi qua
trước khải hoàn môn tốp lính kín mặt vành băng trắng
a men
a di đà
tôi giật lùi và chắp tay lên ngực
nhân loại kéo nhau đi về phía bỏng rộp
đủ kiểu
bằng đầu bằng tim bằng tay
như anh tôi như chú tôi
như thời Pi e đệ nhất
chẳng ai nhận biết bước chân mình
cái chết cao hơn mọi thứ
có thể tin hay không.
10/8/2005
XANH PÊ-TÉC-BUA
nến cháy trong cung điện Mùa Đông
thời nến cháy
tôi tắm ánh sáng ba trăm năm lẻ
lùng săn dấu xưa như lùng tìm cổ vật
triệu tảng đá đóng băng vuông vắn chảy về
ngạo nghễ pháo đài Pêtrô Páplốp
chiếc mũ người xà ích trùm kín lọn tóc nâu
gương mặt tuy líp
con đường dấu ngã
con đường dấu hỏi
con đường không dấu
lốc cốc vó ngựa đổ vào đêm
Xanh Pêtécbua quả chuông
cộng hưởng
giọng vàng
rung trên vòm mộ
trên đường cong thân thể
trên ngực thần tình yêu
trên thác gió
sông Nêva kim đồng hồ nước chẻ đôi
nửa ngược dòng quá khứ
nơi chiếc mỏ neo kéo biển về rừng
nửa khởi nguyên con tàu
chui ra từ chiếc cầu mở
Xanh Pêtécbua ổ bánh mì đen
tôi cầm lên cánh đồng mạch thơm.
11/8/2006
PHÙ PHIẾM
rao giảng điều vô bổ
huyên thuyên thuyết giáo cũ mèm
ba chân trời
ba gốc cây
ba chiếc bóng
người ta chối bỏ sao anh đắm mê
cơn nắng giận hờn
cơn nắng đắng nghét
phi ngọn roi tê dại lên mặt
da thịt rộp phồng sần chai
ướt sũng thân thể
rao giảng điều vô bổ
không tín đồ không giáo hữu
ngôn từ hẫng hụt phù du
chân trời gốc cây chiếc bóng
ghép mãi chẳng thành.
24/4/2008
sự thánh thiện
như ánh sáng tràn miền u tịch
khép lại khoảng không
phiền muộn
đánh thức bờ phù sa
ủ men cánh đồng trắng
như khí trời khao khát
bật dậy bông hoa
đỏ chót
co giãn nhịp nhàng vòm lá
dâng khúc ca mãnh liệt lặng im
như suối nguồn thơm thảo
miên man
hết tháng cùng năm
hạt thánh
nảy nở muôn loài
như bừng bừng của lửa
làm nóng ran tế bào ngủ quên
rực rỡ trên đỉnh hoan lạc
uyển chuyển
vầng trăng cong .
Tháng bảy,2008




