Ai chưa biết về Đồng Hới

  

Ai chưa biết về Đồng Hới

Bài viết chưa xemgửi bởi comandos » Thứ 3 Tháng 7 21, 2009 1:21 pm

Đồng hới với bao chiến công thầm lặng, những mấy ai biết được ý nghĩa của cái tên Đồng Hới
Trước khi Pháp đô hộ Việt Nam, Động Hải là trung tâm của Quảng Bình và được gọi là Động Hải doanh. Động có nghĩa là sâu, hải là biển. Động Hải là biển sâu. Vì thời đó Quảng Bình được đặt dưới chế độ quân sự, nên Chưởng Cơ coi luôn việc binh lẫn việc hành chánh. Động Hải doanh gồm có 7 làng sau đây: Động Hải, Lệ Mỹ, Trấn Ninh (còn gọi là Phú Ninh), Tiền Thiệp, Hướng Dương, Kiên Bính, Thạch Lũy. Các làng này đều trực thuộc Phủ Quảng Ninh.
Ngày 19.7.1885, Pháp chiếm Động Hải và đến năm 1893 Pháp đã biến Động Hải thành thành phố và lấy tên là thành phố Đồng Hới.
Tại sao không gọi là thành phố Động Hải mà gọi là thành phố Đồng Hới? Chữ Hới ở đây nghe gióng tiếng Mường quá!
Người Pháp không đọc chữ Động Hải được nên đổi thành “Dong” và “Hoi”. Hai chữ này được người Pháp ghép lại với nhau theo kiểu tiếng Pháp thành “Donghoi”. Các tài liệu của Pháp đều viết “Donghoi”. Khi phiên âm ngược lại tiếng Việt, các viên chức của ta đã viết thành Đồng Hới!
Sử liệu cũng cho biết, đa số người Động Hải đều có góc ở thôn Hới thuộc vùng Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa di cư vào. Nhưng chữ Hới khi được viết theo chữ Hán đều ghi là Hải, vì trong chữ Hán không có chữ Hới. Nhưng chữ “Hới” trong cái tên Đồng Hới không dính líu gì đến tên cái thôn góc của người di dân.
Cảnh báo thiếu điện
comandos
Bạn tri kỷ QBO
Bạn tri kỷ QBO
 
Bài viết: 204
Ngày tham gia: Thứ 2 Tháng 7 20, 2009 1:33 pm
Đến từ: Đồng Hới

Re: Ai chưa biết về Đồng Hới

Bài viết chưa xemgửi bởi nho_QB » Thứ 3 Tháng 7 21, 2009 4:48 pm

Cảm ơn Comandos về bài viết này, chắc là còn rất nhiều ng ĐH ko hề biết về lịch sử này (trong đó có miềng.. :smt024 ) Nhưng mình nghix, người gốc ĐH ko phải là Ng thanh Hoá di cư vào mà có lẽ là ng từ các huyện thị của QB đến sống ở đây, vì nếu là ng Thanh Hoá di cư vào thì có lẽ giọng nói của Ng ĐH ko giống hiện tại, mà sẽ pha 1 chút tiếng bắc vào đó,..????
Em là con gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già.
nho_QB
Tôi yêu QBO
Tôi yêu QBO
 
Bài viết: 402
Ngày tham gia: Thứ 6 Tháng 6 12, 2009 5:42 pm
Đến từ: BL-SG

Re: Ai chưa biết về Đồng Hới

Bài viết chưa xemgửi bởi comandos » Thứ 4 Tháng 7 22, 2009 10:49 am

ờ ha bạn nói củng đúng và củng sai, bạn thủ nghỉ coi người Diêm Điền là người thái bình di cư vào đó, người Cảnh Dương là dân Bắc Kỳ đi cư vào đó, còn người Bảo Ninh Nếu xâu xa xa lắc lơ củng có gốc gác là Thanh Hóa đó bạn nói chung mình sơ tán hết và lái lái thôi.
Cảnh báo thiếu điện
comandos
Bạn tri kỷ QBO
Bạn tri kỷ QBO
 
Bài viết: 204
Ngày tham gia: Thứ 2 Tháng 7 20, 2009 1:33 pm
Đến từ: Đồng Hới

Re: Ai chưa biết về Đồng Hới

Bài viết chưa xemgửi bởi focus » Thứ 4 Tháng 7 22, 2009 10:54 am

comandos đã viết:ờ ha bạn nói củng đúng và củng sai, bạn thủ nghỉ coi người Diêm Điền là người thái bình di cư vào đó, người Cảnh Dương là dân Bắc Kỳ đi cư vào đó, còn người Bảo Ninh Nếu xâu xa xa lắc lơ củng có gốc gác là Thanh Hóa đó bạn nói chung mình sơ tán hết và lái lái thôi.


Tóm lại bạn có thông tin nào (chính thống 1 chút nhé) về lịch sử sự ra đời của bất kỳ địa danh nào của QBình thì bạn post cho anh em bà con được biết nhé. :smt016
Đây là thấm nhuần tư tưởng "Dân ta phải biết sử ta" của Bác Hồ đấy :mozilla_tongue:
1. Đơn giản không có nghĩa là không đẹp.
2. Cần nói đúng sự thật, lời ton hót chỉ biện hộ cho s gi to <focus>
Hình đại diện của thành viên
focus
Bạn không thể rời QBO
Bạn không thể rời QBO
 
Bài viết: 3476
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 11 23, 2006 4:04 pm
Đến từ: Đồng Hới

Re: Ai chưa biết về Đồng Hới

Bài viết chưa xemgửi bởi comandos » Thứ 2 Tháng 8 03, 2009 8:09 am

comandos đã viết:Đồng hới với bao chiến công thầm lặng, những mấy ai biết được ý nghĩa của cái tên Đồng Hới
Trước khi Pháp đô hộ Việt Nam, Động Hải là trung tâm của Quảng Bình và được gọi là Động Hải doanh. Động có nghĩa là sâu, hải là biển. Động Hải là biển sâu. Vì thời đó Quảng Bình được đặt dưới chế độ quân sự, nên Chưởng Cơ coi luôn việc binh lẫn việc hành chánh. Động Hải doanh gồm có 7 làng sau đây: Động Hải, Lệ Mỹ, Trấn Ninh (còn gọi là Phú Ninh), Tiền Thiệp, Hướng Dương, Kiên Bính, Thạch Lũy. Các làng này đều trực thuộc Phủ Quảng Ninh.
Ngày 19.7.1885, Pháp chiếm Động Hải và đến năm 1893 Pháp đã biến Động Hải thành thành phố và lấy tên là thành phố Đồng Hới.
Tại sao không gọi là thành phố Động Hải mà gọi là thành phố Đồng Hới? Chữ Hới ở đây nghe gióng tiếng Mường quá!
Người Pháp không đọc chữ Động Hải được nên đổi thành “Dong” và “Hoi”. Hai chữ này được người Pháp ghép lại với nhau theo kiểu tiếng Pháp thành “Donghoi”. Các tài liệu của Pháp đều viết “Donghoi”. Khi phiên âm ngược lại tiếng Việt, các viên chức của ta đã viết thành Đồng Hới!
Sử liệu cũng cho biết, đa số người Động Hải đều có góc ở thôn Hới thuộc vùng Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa di cư vào. Nhưng chữ Hới khi được viết theo chữ Hán đều ghi là Hải, vì trong chữ Hán không có chữ Hới. Nhưng chữ “Hới” trong cái tên Đồng Hới không dính líu gì đến tên cái thôn góc của người di dân.



Vua Lý Thánh Tông năm 1054 đã đổi tên nước thành Đại Việt. Do Chiêm Thành thường ra quấy nhiễu, năm 1063 vua Lý Nhân Tông đã đích thân nam chinh. Vua chọn thái uý Lý Thường Kiệt làm nguyên soái tiên phong chỉ huy 5 vạn quân theo đường thuỷ tiến vào cửa biển Nhật Lệ , đánh bại quân Chiêm, bắt sống Chế Củ. Vua Chiêm đã chuộc mạng bằng cách tôn trọng chủ quyền của Đại Việt ở ba châu Bố Chính (Tuyên Hoá, Quảng Trạch, Bố Trạch ngày nay), Địa Lý (Lệ Thuỷ và Quảng Ninh bây giờ), Ma Linh (Quảng Trị hiện tại). Năm 1074, Chế Củ chết, người kế vị lại đánh chiếm ba châu. Năm 1075, vua Lý Nhân Tông cử Lý Thường Kiệt vào bình định lại, chính thức vẽ bản đồ cương giới ba châu, đổi lại tên của nhiều địa danh, giữ tên châu Bố Chính, đổi tên châu Điạ Lý thành châu Lâm Bình, châu Ma Linh thành châu Minh Linh, xuống chiếu mộ dân vào giữ vùng đất mới và tổ chức việc cai trị. Đây là đợt di dân đầu tiên để vào giữ đất và khai khẩn đất phương Nam. Tên sông Nhật Lệ dường như được đặt lại trong dịp đó.

Thời Trịnh - Nguyễn phân tranh (1570-1786) với xung đột vũ trang gần nửa thế kỷ (1627-1672) giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài thì chiến trường chính là miền Bố Chính, từ đèo Ngang đến Nhật Lệ. Trong cuộc chiến Trịnh Nguyễn, quân Trịnh án ngữ ở đèo Ngang đến bờ bắc sông Gianh. Bờ nam sông Gianh đến sông Nhật Lệ là tuyến phòng thủ của quân Nguyễn với những thành lũy chắc chắn do Đào Duy Từ tổ chức xây đắp, luỹ Thầy dài 18 km, luỹ Trường Dục dài 10 km. Di tích Lũy Thầy, Quảng Bình quan, thành quách của thời Trịnh Nguyễn nay vẫn còn.
Trong Chiến tranh Việt Nam (1954-1975), không lực Hoa Kỳ đã đánh phá miền Bắc Việt Nam ác liệt nhất tại tỉnh Quảng Bình. Những trọng điểm nổi tiếng ác liệt, lưu dấu nhiều chứng tích chiến tranh là phà Long Đại (nay là cầu Long Đại), phà Xuân Sơn, phà sông Gianh (nay là cầu Sông Gianh), đèo Ngang, quốc lộ 1, đường 15, hệ thống đường 559 (đường Trường Sơn, đường mòn Hồ Chí Minh), thành phố Đồng Hới, cửa biển Nhật Lệ.

Năm 1627, chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã gặp và trọng dụng Đào Duy Từ, một người học rộng tài cao quê Thanh Hóa. Nguyễn Phúc Nguyên gọi Đào Duy Từ là thầy để tỏ lòng kính trọng. Năm Canh Ngọ 1630, ông chủ xướng việc thiết kế và chỉ đạo xây dựng hai công trình phòng thủ quan trọng là Lũy Trường Dục ở huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình (1630) và Lũy Thầy từ cửa sông Nhật Lệ đến núi Đâu Mâu (Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình).
Do biết Đào Duy Từ là một người văn võ song toàn, chúa Nguyễn liền giao cho ông đứng ra lo việc thiết kế và xây thành lũy tại khu vực ngày nay là Đồng Hới để bảo vệ chúa Nguyễn Đàng Trong trước các cuộc tấn công củ chúa Trịnh Đàng Ngoài. Lũy Nhật Lệ và tài năng quân sự của Đào Duy Từ đã đóng quan trọng trong việc bảo vệ chúa Nguyễn giữ vững cơ đồ của mình tại Đằng Trong trong suốt gần 50 năm giao tranh ác liệt với chúa Trịnh từ năm 1627-1672.
Lũy Thầy được người dân Đàng Trong gọi hệ thống thành lũy phía Nam sông Gianh là Lũy Thầy để tỏ lòng tôn kính Đào Duy Từ như bậc thầy của chúa, của vua. Hệ thống này gồm bốn tòa lũy, trong đó hai lũy Nhật Lệ và Trường Dục được xây trong giai đoạn 1630-1631 dưới sự chỉ huy của Đào Duy Từ, còn hai lũy kia do học trò của ông là tướng Nguyễn Hữu Dật thực hiện (1634, 1661).
Sau này, vua Thiệu Trị của nhà Nguyễn đi qua hệ thống Lũy Thầy hùng vĩ này đã xúc động trước công trình thành lũy này và đã ban cho lũy này tên mới "Định Bắc trường thành" để nhớ ơn tổ tiên đã giữ vững cõi Nam.

Nay có thể nhìn thấy lũy Thầy từ đường Quách Xuân Kỳ và phía Tây phường Phú Hải, đoạn đê này giờ có tên đường là Trương Định, thành phố Đồng Hới.
Thông tin sưu tầm
Cảnh báo thiếu điện
comandos
Bạn tri kỷ QBO
Bạn tri kỷ QBO
 
Bài viết: 204
Ngày tham gia: Thứ 2 Tháng 7 20, 2009 1:33 pm
Đến từ: Đồng Hới


Quay về • Nhân vật - Lịch sử

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến2 khách