Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam!

  
Thảo luận các vấn đề trong cuộc sống và trong QBO.

Re: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam!

Bài viết chưa xemgửi bởi focus » Thứ 4 Tháng 7 20, 2011 2:55 pm

Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam

Nội dung Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng được thể hiện rất thận trọng, đặc biệt là không hề có việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Gần đây Trung Quốc luôn rêu rao cái gọi là họ có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc Trung Quốc diễn giải nội dung Công hàm ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như là một chứng cứ cho thấy Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hết sức phiến diện và xuyên tạc nội dung, ý nghĩa của bản Công hàm đó, hoàn toàn xa lạ với nền tảng pháp lý của Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế, bất chấp thực tế khách quan của bối cảnh lịch sử đương thời. Có thể nói, giải thích xuyên tạc Công hàm 1958 là một trong chuỗi những hành động có tính toán nhằm tạo cớ, từng bước hợp thức hóa yêu sách chủ quyền phi lý của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.



Theo lý giải của Trung Quốc, ngày 4 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã công khai tuyên bố với quốc tế quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc và các đảo ngoài khơi, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam). Sau đó, ngày 14/9/1958, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) Phạm Văn Đồng gửi Công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai, nguyên văn như sau:

"Thưa Đồng chí Tổng lý,

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng".


Cần phải thấy rằng, các tuyên bố nói trên của Trung Quốc cũng như của VNDCCH ra đời trong bối cảnh có nhiều chuyển biến phức tạp và cấp bách đối với Trung Quốc về tình hình lãnh thổ trên biển theo luật pháp quốc tế cũng như diễn biến căng thẳng của vấn đề quân sự xung quanh eo biển Đài Loan.

Năm 1956, Liên Hợp Quốc bắt đầu tiến hành các hội nghị quốc tế bàn về Luật Biển, sau đó một số hiệp định được ký kết vào năm 1958, tuy nhiên vẫn chưa làm thỏa mãn yêu sách về lãnh hải của một số quốc gia.

Từ đầu thế kỷ XX, nhiều quốc gia đã bắt đầu chú ý tới nguồn lợi to lớn từ khoáng sản và tài nguyên biển, bộc lộ ý đồ mở rộng chủ quyền trên biển. Trung Quốc, dù trong lịch sử ít quan tâm đến biển, cũng bắt đầu chú ý đến việc mở mang, kiếm tìm những đặc quyền trên biển. Mặc dù lúc đó chưa phải là thành viên của Liên Hợp Quốc, nhưng Trung Quốc cũng bắt đầu chú ý đến việc lên tiếng với cộng đồng quốc tế nhằm giải quyết các vấn đề trên biển theo hướng có lợi cho Trung Quốc. Trong chiến lược cho tương lai, thì việc cạnh tranh trên biển, cũng như tìm kiếm những nguồn tài nguyên trên biển là một vấn đề được Trung Quốc đặt ra.

Trên thực tế, cũng từ đầu thế kỷ XX, Trung Quốc đã hình thành ý định nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Rõ ràng, việc nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam từ thế kỷ XX đã nằm trong chiến lược "lấn sân" của Trung Quốc về tham vọng mở rộng biên giới quốc gia trên biển.

Image
Đảo Núi Le ở quần đảo Trường Sa.

Ngày 26/5/1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman đã ra lệnh cho Hạm đội 7 tiến vào eo biển Đài Loan, ngăn chặn cuộc tấn công của Trung Quốc nhắm vào các đảo trên eo biển Đài Loan. Với hành động này, Mỹ đã thực sự bảo hộ Đài Loan, mặc cho Trung Quốc kịch liệt lên án. Để tỏ rõ quyết tâm giải phóng Đài Loan, ngày 3/9/1954, Trung Quốc đã tấn công trừng phạt đối với các hòn đảo ven biển như Kim Môn, Mã Tổ. Các nhà chép sử gọi đây là cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhất.

Ngày 11/8/1954, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tuyên bố sẽ "giải phóng" Đài Loan, và tăng cường pháo kích vào hai đảo Kim Môn và Mã Tổ.

Ngày 12/9/1954, Chủ tịch Hội đồng Liên quân Hoa Kỳ đưa ra dự tính tấn công Trung Quốc bằng vũ khí nguyên tử nhưng Tổng thống Eisenhower đã do dự sử dụng vũ khí nguyên tử cũng như sự liên can của quân đội Hoa Kỳ vào cuộc chiến này.

Năm 1958, tiếp tục xảy ra cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai. Ngày 23/8/1958 Trung Quốc đột ngột tăng cường nã pháo vào đảo Kim Môn. Theo Hiệp định Phòng thủ tương hỗ giữa Đài Loan-Hoa Kỳ, Tổng thống Eisenhower đã ra lệnh cho tàu chiến Hoa Kỳ đến bảo vệ đường tiếp tế hậu cần từ đảo Đài Loan đến 2 đảo tiền tiêu Kim Môn và Mã Tổ.

Ngoài bối cảnh "phức tạp và cấp bách" đối với Trung Quốc như đã nêu trên, theo Thạc sĩ Hoàng Việt (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông), Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra đời trong bối cảnh quan hệ đặc thù VNDCCH -Trung Quốc lúc đó "vừa là đồng chí vừa là anh em". Năm 1949, bộ đội Việt Nam còn tấn công và chiếm vùng Trúc Sơn thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ tay các lực lượng khác rồi trao trả lại cho Quân giải phóng Trung Quốc. Năm 1957, Trung Quốc chiếm giữ đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam từ tay một số lực lượng khác, rồi sau đó cũng trao trả cho Việt Nam. Điều này cho thấy quan hệ đặc thù của hai nước VNDCCH - Trung Quốc lúc bấy giờ. Do vậy, trong tình hình lãnh thổ Trung Quốc đang bị đe dọa chia cắt, cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai khiến Hải quân Hoa Kỳ đưa tàu chiến vào can thiệp, việc Trung Quốc ra tuyên bố về lãnh hải bao gồm đảo Đài Loan trước hết nhằm khẳng định chủ quyền trên biển của Trung Quốc trong tình thế bị đe dọa tại eo biển Đài Loan. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn không quên mục đích "sâu xa" của họ trên Biển Đông nên đã "lồng ghép" thêm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào bản tuyên bố.

Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất phát từ mối quan hệ rất đặc thù với Trung Quốc trong thời điểm VNDCCH đang rất cần tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các quốc gia trong khối xã hội chủ nghĩa bấy giờ và là một cử chỉ ngoại giao tốt đẹp thể hiện quan điểm ủng hộ của VNDCCH trong việc tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc trước các diễn biến quân sự phức tạp trên eo biển Đài Loan.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã phát biểu những lời ủng hộ Trung Quốc trong hoàn cảnh hết sức khẩn trương, chiến tranh chuẩn bị leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ đang tiến vào eo biển Đài Loan và đe dọa Trung Quốc.

Nội dung Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng được thể hiện rất thận trọng, đặc biệt là không hề có việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bởi, hơn ai hết, chính Thủ tướng VNDCCH thấu hiểu quyền tuyên bố về lãnh thổ quốc gia thuộc thẩm quyền cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội, và việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia luôn luôn là mục tiêu hàng đầu đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam, nhất là trong hoàn cảnh ra đời của Công hàm như đã nêu trên.

Công hàm 1958 có hai nội dung rất rõ ràng: Một là, Chính phủ VNDCCH ghi nhận và tán thành việc Trung Quốc mở rộng lãnh hải ra 12 hải lý; Hai là, Chính phủ VNDCCH chỉ thị cho các cơ quan nhà nước tôn trọng giới hạn lãnh hải 12 hải lý mà Trung Quốc tuyên bố.

Trong Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có từ nào, câu nào đề cập đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, càng không nêu tên bất kỳ quần đảo nào như Trung Quốc đã nêu. Do vậy, chỉ xét về câu chữ trong một văn bản có tính chất ngoại giao cũng dễ dàng nhận thấy mọi suy diễn cho rằng Công hàm 1958 đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và coi đó là bằng chứng khẳng định Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này là xuyên tạc lịch sử và hoàn toàn không có cơ sở pháp lý.

Tại Hội nghị San Francisco 1951, các quốc gia tham dự đã bác bỏ yêu sách về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cũng tại hội nghị này, Việt Nam đã long trọng tuyên bố chủ quyền lâu đời và liên tục của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong phiên họp toàn thể mà không có bất kỳ sự phản đối hay ý kiến gì khác của tất cả các quốc gia tham dự. Điều đó có nghĩa là kể từ năm 1951, cộng động quốc tế đã thừa nhận chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Những tuyên bố đơn phương về chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế là vô hiệu.

Hiệp định Genève 1954, mà Trung Quốc là một nước tham gia chính thức, cũng thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về người Việt Nam. Các điều khoản trong Hiệp định cũng yêu cầu các quốc gia tham dự Hội nghị cam kết tôn trọng chủ quyền độc lập, nền thống nhất quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Do vậy, phần tuyên bố về chủ quyền của Trung Quốc liên quan tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trong bản tuyên bố ngày 4/9/1958 về cơ sở pháp lý quốc tế đương nhiên được xem là không có hiệu lực.

Trong Công hàm 1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng không hề đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì điều đó là không cần thiết, bởi theo Hiệp định Genève 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Trong thời điểm đó, dưới góc độ tài phán quốc tế, thì Chính phủ VNDCCH không có nghĩa vụ và quyền hạn hành xử chủ quyền tại hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế.

Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đương nhiên chỉ tán thành những tuyên bố của Trung Quốc có nội dung hợp pháp được cộng đồng quốc tế thừa nhận trên cơ sở luật pháp quốc tế cho đến giai đoạn đó. Một phần nội dung của bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền quốc gia về lãnh thổ của Việt Nam, đồng thời cũng vi phạm nghiêm trọng các cơ sở pháp lý về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà cộng đồng quốc tế đã thừa nhận cũng như đã nhiều lần tái thừa nhận một cách minh thị là thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chính phủ VNDCCH trong bối cảnh quan hệ hữu nghị rất đặc thù với Trung Quốc đã khẳng định lập trường ghi nhận, tán thành tuyên bố giới hạn 12 hải lý về lãnh hải của Trung Quốc, còn những nội dung cụ thể diễn giải vượt quá phạm vi chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc theo các hiệp ước quốc tế đã không được đề cập tới như là một sự mặc nhiên thừa nhận sự vô hiệu của nó dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế.

Trong khi đó, Chính quyền VNCH, theo Hiệp định Genève 1954, đã liên tục thực thi chủ quyền lâu đời của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các văn bản hành chính nhà nước cũng như bằng việc triển khai thực thi chủ quyền thực tế trên hai quần đảo này. Đỉnh cao của sự khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn này là trận hải chiến quyết liệt của Hải quân VNCH chống lại sự xâm lược của tàu chiến và máy bay Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974.

Image
Bức Công hàm ngày 14-9-1958 của Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký

Trong bối cảnh lịch sử đặc biệt nêu trên càng thấy rõ một sự thật hiển nhiên là Công hàm ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đơn giản chỉ ghi nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc, không hề nhắc lại các nội dung mập mờ liên quan đến các quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam. Về thực chất, Công hàm 1958 thể hiện một thái độ chính trị, một cử chỉ hữu nghị với tuyên bố giới hạn lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc. Thực là phi lý, nếu cố tình suy diễn và xuyên tạc (như lập luận phía Trung Quốc), cho rằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người con ưu tú của dân tộc, lại ký văn bản từ bỏ lãnh thổ và chủ quyền của đất nước trong khi chính ông và cả dân tộc Việt Nam đã chiến đấu hết mình để giành độc lập, tự do.

Có lẽ cần phải nhấn mạnh rằng tất cả những hành động ngoại giao của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong Công hàm 1958 có thể hiểu không phải là ông không nhìn thấy mọi ý đồ của Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam vì ông đã có kinh nghiệm trong bàn đàm phán Genève năm 1954, khi mà Trung Quốc đã có không ít động thái rất bất lợi cho VNDCCH. Nội dung Công hàm ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng phù hợp với hoàn cảnh và mối quan hệ đặc thù giữa VNDCCH và Trung Quốc bấy giờ, đồng thời cũng hàm chứa thái độ không bao giờ từ bỏ chủ quyền của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó cũng là quan điểm nhất quán của Việt Nam, bởi từ năm 1945 đến nay, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội Việt Nam Cộng hòa, Mặt trận DTGPMN Việt Nam và sau đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và hiện nay là Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam chưa bao giờ lên tiếng hoặc ra nghị quyết từ bỏ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Một cơ sở nữa trên phương diện pháp lý, nước VNDCCH lúc đó không trực tiếp quản lý đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trước năm 1975, các quốc gia và lãnh thổ tranh chấp gồm: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam Cộng hòa và Philippines. Như vậy, những lời tuyên bố của VNDCCH xem như lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không có ảnh hưởng đến vụ tranh chấp. Tuy nhiên, có tác giả đã cố tình nêu thuyết "estoppel" để suy diễn những lời tuyên bố đó có hiệu lực bó buộc đối với Việt Nam.

Theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lý nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại trừ thuyết "estoppel". Mục đích chính của nó ngăn chặn trường hợp một quốc gia có thể hưởng lợi vì những thái độ bất nhất của mình, và do đó, gây thiệt hại cho quốc gia khác. Vì vậy, estoppel phải hội đủ các điều kiện chính: (1) Lời tuyên bố hoặc hành động phải do một người hoặc cơ quan đại diện cho quốc gia phát biểu và phải được phát biểu một cách minh bạch; (2) Quốc gia nại "estoppel" phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động; (3) Quốc gia nại "estoppel" cũng phải chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó; (4) Nhiều bản án còn đòi hỏi lời tuyên bố hoặc hoạt động phải được phát biểu một cách liên tục và lâu dài. Thí dụ: bản án "Phân định biển trong vùng Vịnh Maine", bản án "Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua", bản án "Ngôi đền Preah Vihear"...

Áp dụng những nguyên tắc trên của estoppel vào những lời tuyên bố của VNDCCH, chúng ta thấy thiếu điều kiện 2 và 3 đã nêu ở trên. Năm 1956, năm 1958 và năm 1965, Trung Quốc đã không có thái độ nào, hoặc thay đổi thái độ vì dựa vào lời tuyên bố của VNDCCH. Trung Quốc cũng không thể chứng minh được rằng mình bị thiệt hại gì do dựa vào những lời tuyên bố đó. VNDCCH cũng không được hưởng lợi gì khi có những lời tuyên bố đó.

Trong suốt quá trình thực hiện mưu đồ bá chủ trên Biển Đông, Trung Quốc đã không ít lần đưa ra các tài liệu xuyên tạc lịch sử, biến có thành không, biến không thành có, tung hỏa mù để cố tình làm sai lệch nhận thức của chính nhân dân Trung Quốc cũng như của cộng đồng quốc tế về vấn đề này theo hướng có lợi cho mưu đồ của Trung Quốc. Tuy nhiên, trước những bằng chứng hiển nhiên của sự thật lịch sử và dưới ánh sáng của luật pháp quốc tế những hành vi xuyên tạc, tung hỏa mù, cố tình làm cho cộng đồng quốc tế ngộ nhận càng khiến cho Trung Quốc lộ rõ âm mưu cũng như thủ đoạn của họ trong suốt quá trình áp đặt ý đồ "nuốt trọn" Biển Đông, theo kiểu "miệng nói hòa bình không xưng bá, tay làm phức tạp hoá tình hình".

Nguồn và link: Vietnamnet.vn >>>
1. Đơn giản không có nghĩa là không đẹp.
2. Cần nói đúng sự thật, lời ton hót chỉ biện hộ cho s gi to <focus>
Hình đại diện của thành viên
focus
Bạn không thể rời QBO
Bạn không thể rời QBO
 
Bài viết: 3476
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 11 23, 2006 4:04 pm
Đến từ: Đồng Hới

Re: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam!

Bài viết chưa xemgửi bởi focus » Thứ 6 Tháng 7 22, 2011 12:27 pm

Dày đặc tư liệu nước ngoài khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam

Không chỉ những bằng chứng lịch sử và hành động cụ thể xác định chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và trường Sa, các tài liệu lịch sử của nhiều nước cũng chứng tỏ điều này một cách rõ rệt. Những tài liệu của người Pháp, Hà Lan... từ trước thế kỷ 18 đều ghi nhận chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo này.

Những sử liệu chính xác

Từ nhiều thế kỷ trước, người phương Tây đã biết đến và ghi nhận quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng trong quá trình nghiên cứu Ký sự Batavia (Journal de Batavia) của Công ty Đông Ấn - Hà Lan xuất bản, cho thấy vào các năm 1631-1636 có ghi về những sự kiện các tàu biển thuộc Công ty Đông Ấn bị tai nạn tại quần đảo Hàng Sa thuộc xứ Đàng Trong như sau: Ngày 20/7/1634, vào thời Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635), 3 chiếc tàu biển đăng ký tại Hà Lan từ Batavia (Indonesia) đến Tuoranne (Đà Nẵng) cùng nhổ neo đi Đài Loan. Ngày 21, trên đường biển tại tọa độ khoảng 15 vĩ độ và 115 kinh tuyến, các tàu đã gặp bão nên lạc hướng, trong đó, 1 chiếc bị đắm gần tọa độ nêu trên, nơi có quần đảo Hoàng Sa. Thủy thủ để lại 50 người ở lại đảo, mang theo 2 người vào duyên hải xứ Đàng Trong xin giúp đỡ, và được đi nhờ tàu Nhật Bản về xứ Batavia.

Image
Chắc tay súng bảo vệ vùng biển đảo thương yêu của Tổ quốc. (Ảnh minh họa)

Sau này, trong cuốn sách Hoàng Sa, Trường Sa, lãnh thổ Việt Nam nhìn từ công pháp quốc tế, nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng cũng nêu: Kể từ năm 1634, người Hà Lan đã tường thuật khá rõ về quần đảo Hoàng Sa trên lãnh hải Việt Nam do các Chúa Nguyễn hành xử để kiểm soát các tàu biển qua lại khu vực này. Nhưng địa danh Hoàng Sa (Paracel), Trường Sa (Spartley) không phải tới năm 1636 mới được người Hà Lan chính thức nói đến. Ngay từ đầu thế kỷ XVI, một bản đồ hàng hải phương Tây được anh em nhà Van Langren, người Hà Lan vẽ, ấn hành năm 1595 đã nhắc đến địa danh Pareacel, Spartley.

Ngoài các tài liệu của người Hà Lan về chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, các giáo sĩ châu Âu thuộc Hội truyền giáo Paris thường xuyên tháp tùng các thuyền buôn đến Việt Nam truyền giáo tại các xứ Đàng Trong và Đàng Ngoài cũng ghi chép cẩn thận về hải trình họ theo các thuyền buôn đến Việt Nam và được lưu trữ tại Văn khố Hội truyền giáo Paris. Các tài liệu này đều cho thấy việc các tàu thuyền buôn của họ gặp nạn, được các chúa Nguyễn giúp đỡ, trở về nước. Các tư liệu này được viết bằng tiếng Pháp và sau này được giáo sĩ Đặng Phương Nghi công bố trên Tập san Sử địa ấn hành năm 1975 tại Sài Gòn.

Sự thật hiển nhiên không thể bác bỏ

Tương tự như các tài liệu của phương Tây nửa đầu thế kỷ 19, trong sách Bức tranh Thế giới - Lịch sử và sự mô tả các dân tộc, tôn giáo, phong tục, tập quán của họ: Nhật Bản, Đông Dương, Tích Lan, nhà xuất bản Firmin-Didot Frères et Cie, xuất bản năm 1850 tại Paris, cũng nhắc đến chủ quyền của xứ Đàng Trong đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: “...Chúng tôi chỉ xin lưu ý rằng từ hơn 34 năm nay, quần đảo Paracels mà người Việt gọi là Cát Vàng hoặc Hoàng Sa, gồm rất nhiều hòn đảo chằng chịt - đã được chiếm cứ bởi người xứ Đàng Trong”.

Đặc biệt, nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng cũng cho biết trong số các tài liệu phương Tây viết về chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, có khá nhiều sách và bài viết của Giám mục Jean Louis Taberd. Ông là giám mục Thiên Chúa giáo, am tường về địa lý, lịch sử, phong tục, ngôn ngữ xứ Đàng Trong. Bài viết của Giám mục J.L. Taberd trong quyển sách xuất bản định kỳ hằng năm là Bức tranh Thế giới - Lịch sử và mô tả các dân tộc, tôn giáo, phong tục, tập quán của họ, xuất bản năm 1833 tại Paris, có nêu: “... chúng tôi biết chắc là Hoàng đế Gia Long đã thân chinh vượt biển để thâu quần đảo Hoàng Sa, và chính là vào năm 1816, Ngài đã long trọng treo tại đó lá cờ của xứ Đàng Trong”. Vài năm sau, cũng Giám mục Taberd, trong bài viết Ghi chú về địa lý xứ Đàng Trong đăng trên Tập san Hội châu Á của xứ Bengal, xuất bản tháng 9/1837 tại Calcutta (Ấn Độ), và bài Ghi chú thêm về địa lý xứ Đàng Trong, tháng 4/1838, tiếp tục xác định: “Năm 1816, nhà vua đã tới cắm cờ một cách long trọng và chính thức giữ chủ quyền các hòn đảo này, nơi hình như không một ai tranh giành với nhà vua”.

Đặc biệt, trong cuốn Tự điển La tinh - Việt cũng của Giám mục J. L Taberd, xuất bản năm 1838, còn đính thêm một bản đồ với tên gọi là An Nam Đại quốc Họa đồ, trong đó ghi rõ tọa độ và khẳng định Paracels hay Cát Vàng nằm trong lãnh hải của Việt Nam. Điều này chứng tỏ quần đảo Hoàng Sa (Paracel) và Trường Sa (Spartey) là những hải đảo quen thuộc với các nhà hàng hải, giáo sĩ phương Tây từ thế kỷ 16. Mỗi khi bị nạn, họ đều tìm cách đến duyên hải Đàng Trong của Việt Nam mong được cứu giúp vì Hoàng Sa, Trường Sa từ thế kỷ 16 đã thuộc quyền sở hữu của các Chúa Nguyễn (1558-1778).

Những sử liệu và sự kiện này chứng minh một cách chính xác và hùng hồn cho chủ quyền Việt Nam trên vùng biển này. Các sử liệu này cũng khẳng định rằng chậm nhất là đến cuối thế kỷ 16, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một phần lãnh thổ của Việt Nam và được người Việt chính thức hành xử chủ quyền trên các đảo ấy. Đây là sự thật hiển nhiên mà không một sử gia chân chính nào có thể bác bỏ.

Hà Vỹ ( Baodatviet.vn >>> )
1. Đơn giản không có nghĩa là không đẹp.
2. Cần nói đúng sự thật, lời ton hót chỉ biện hộ cho s gi to <focus>
Hình đại diện của thành viên
focus
Bạn không thể rời QBO
Bạn không thể rời QBO
 
Bài viết: 3476
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 11 23, 2006 4:04 pm
Đến từ: Đồng Hới

Re: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam!

Bài viết chưa xemgửi bởi focus » Chủ nhật Tháng 7 24, 2011 12:42 pm

Với Khựa, ngoài lý lẽ ra thì cũng phải chuẩn bị lực lượng quân đội, đặc biệt là Binh chủng Hải Quân. Dưới đây là 2 clip về Hải Quân (đã được phát trên VTV1 và VTV4)

PHẦN 1:



PHẦN 2:
1. Đơn giản không có nghĩa là không đẹp.
2. Cần nói đúng sự thật, lời ton hót chỉ biện hộ cho s gi to <focus>
Hình đại diện của thành viên
focus
Bạn không thể rời QBO
Bạn không thể rời QBO
 
Bài viết: 3476
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 11 23, 2006 4:04 pm
Đến từ: Đồng Hới

Re: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam!

Bài viết chưa xemgửi bởi focus » Thứ 2 Tháng 8 01, 2011 7:43 pm

1 bài hát hay về Trường Sa

1. Đơn giản không có nghĩa là không đẹp.
2. Cần nói đúng sự thật, lời ton hót chỉ biện hộ cho s gi to <focus>
Hình đại diện của thành viên
focus
Bạn không thể rời QBO
Bạn không thể rời QBO
 
Bài viết: 3476
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 11 23, 2006 4:04 pm
Đến từ: Đồng Hới

Re: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam!

Bài viết chưa xemgửi bởi focus » Thứ 6 Tháng 8 05, 2011 2:40 pm

Hôm nay là ngày truyền thống của Hải quân nhân dân Việt Nam.
thôi thì ko có gì ngoài việc ngắm vũ khí của hải quân nước mình. :smt016

Tàu chiến:


Image
Tàu Hải Phòng Petya II




Image
Tàu chiến Gepard (Đinh Thiên Hoàng)




Image
Tàu Hải phòng Petya III





Image
Tàu hộ tống BPS-500




Image
Tàu hộ tống Tarantul I




Image
Tàu hộ tống Tarantul V





Image
Tàu tuần tra Turya




Image
Tàu tuần tra Turya PTF




Image
Tàu tuần tra Shershen PTF




Image
Tàu tuần tra Svetlyak


Tên lửa:


Image
P-500 Bazalt/SS-N-12 Sandbox





Image
Kh-41 Moskit/SS-N-22 Sunburn




Image
P-800 Oniks/SS-N-26 Yakhont





Image
Kh-35 Uran/SS-N-25 Switchblade 3M-24E





Image
Kh-35 Uran/SS-N-25 Switchblade 3M-24E khai hoả





Image
P-15 Termit//SS-N-2A/B Styx





Image
Kh-41 Moskit





Image
Kh-41 Moskit khai hỏa





Image
Kh-35 Uran





Image
P-800 Oniks/Yakhont




Image
P-800 Oniks/Yakhont
1. Đơn giản không có nghĩa là không đẹp.
2. Cần nói đúng sự thật, lời ton hót chỉ biện hộ cho s gi to <focus>
Hình đại diện của thành viên
focus
Bạn không thể rời QBO
Bạn không thể rời QBO
 
Bài viết: 3476
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 11 23, 2006 4:04 pm
Đến từ: Đồng Hới

Re: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam!

Bài viết chưa xemgửi bởi Hoai Van » Thứ 2 Tháng 8 08, 2011 3:17 pm

Cứ phải nhiều tàu chiến, nhiều tàu ngầm, nhiều tiêm kích sukhoi vào. Cứ 50km thả neo 1 chiếc, cứ 2 tiếng đồng hồ cho mấy chú Sukhoi 30, 32 lượn tuần tra 1 vòng thế mới an tâm, thế mới khỏi mất biển, dù biết thế nhưng ta còn nghèo quá ...
1 ngày có 24 giờ, cho nên trong một két bia sẽ có 24 chai
Hoai Van
Bạn chí cốt QBO
Bạn chí cốt QBO
 
Bài viết: 162
Ngày tham gia: Thứ 3 Tháng 7 10, 2007 10:39 am
Đến từ: Lệ Thủy

Re: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam!

Bài viết chưa xemgửi bởi focus » Thứ 2 Tháng 8 08, 2011 8:21 pm

Hoai Van đã viết:Cứ phải nhiều tàu chiến, nhiều tàu ngầm, nhiều tiêm kích sukhoi vào. Cứ 50km thả neo 1 chiếc, cứ 2 tiếng đồng hồ cho mấy chú Sukhoi 30, 32 lượn tuần tra 1 vòng thế mới an tâm, thế mới khỏi mất biển, dù biết thế nhưng ta còn nghèo quá ...


Đúng vậy, nó cũng giống như cái topic nhỏ bé này giữa biển trời mênh mông của QBO ấy mà. Mãi mới thấy 1 người ghé thăm! :smt016
Ah, Hải quân mình mới nhận thêm 1 chiếc Gepard 3.9 nữa đấy. Rứa là coi như được 2 chiếc, đỡ túng :hs

Image
1. Đơn giản không có nghĩa là không đẹp.
2. Cần nói đúng sự thật, lời ton hót chỉ biện hộ cho s gi to <focus>
Hình đại diện của thành viên
focus
Bạn không thể rời QBO
Bạn không thể rời QBO
 
Bài viết: 3476
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 11 23, 2006 4:04 pm
Đến từ: Đồng Hới

Re: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam!

Bài viết chưa xemgửi bởi Hoai Van » Thứ 3 Tháng 8 09, 2011 10:51 am

focus đã viết:Đúng vậy, nó cũng giống như cái topic nhỏ bé này giữa biển trời mênh mông của QBO ấy mà. Mãi mới thấy 1 người ghé thăm! :smt016

Từ ngày xuống miền tây, từ ngày bồng tay bế "theo vợ bỏ cuộc chơi" HV tớ không còn nhiều thời gian để đồng hành cùng QBO trong các hoạt động. Cũng từ dạo ấy, tâm hồn cũng hom hem già cỗi đi, cuộc sống cơm áo gạo tiền chân dài chân ngắn nó biến mình thành quan sát viên khi nào không hay, Từ nay... xin trở lại. :smt024

À, hô 1 câu khẩu hiệu kẻo lạc chủ đề :smt043

Hoàng sa - Trường sa là của Việt Nam :vn
1 ngày có 24 giờ, cho nên trong một két bia sẽ có 24 chai
Hoai Van
Bạn chí cốt QBO
Bạn chí cốt QBO
 
Bài viết: 162
Ngày tham gia: Thứ 3 Tháng 7 10, 2007 10:39 am
Đến từ: Lệ Thủy

Re: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam!

Bài viết chưa xemgửi bởi Hoai Van » Thứ 4 Tháng 8 10, 2011 3:43 pm

focus đã viết:Ah, Hải quân mình mới nhận thêm 1 chiếc Gepard 3.9 nữa đấy. Rứa là coi như được 2 chiếc, đỡ túng :hs

Image


Tạp chí Bình luận Quân sự Hán Hòa số tháng 1/2011 bình luận vào tháng 8/2010, hải quân Việt Nam đã nhận được chiếc tàu hộ vệ Gepard 3.9 thứ hai. Đây là lần đầu tiên hải quân Việt Nam sở hữu những chiếc tàu mặt nước có lượng giãn nước trên 2.000 tấn. Nhờ đó, hải quân Việt Nam đã tạm biệt thời đại hoạt động ven bờ, chuyển sang giai đoạn hoạt động ở khu vực biển gần.

Theo kế hoạch hiện đại hóa hải quân cả gói, bước đầu tiên, Việt Nam sẽ nhận được 2 chiếc Gepard 3.9, tiếp đó Việt Nam sẽ tự chế tạo thêm ít nhất 2 chiếc Gepard 3.9. Vấn đề đặt ra là vũ khí đi cùng những chiếc tàu này có sự thay đổi nào không? Câu trả lời rằng việc này đang trong quá trình xem xét. Nhưng nếu phân tích kỹ, với việc được trang bị hệ thống vũ khí tính năng cao của Nga, thậm chí là hệ thống vũ khí do Ấn Độ chế tạo, có thể thấy từ nay về sau hải quân Việt Nam đủ sức hình thành ưu thế phi đối xứng đối với hải quân Trung Quốc trên cơ sở sử dụng những chiếc Gepard 3.9.

Gepard 3.9 có lượng giãn nước tối đa là 2.100 tấn, tốc độ tối đa đạt 28 hải lý/giờ (hơn 45 km/giờ), tốc độ tiết kiệm nhiên liệu là 18 hải lý/giờ (gần 29 km/giờ) và hành trình tác chiến tối đa lên tới 5.000 hải lý (hơn 8.000 km). Vì thế nhờ được trang bị Gepard 3.9, phạm vi tuần tra của hải quân Việt Nam có thể bao phủ toàn bộ Biển Đông.
Xem xét khía cạnh hỏa lực tiến công, những chiếc Gepard 3.9 mà Nga chế tạo cho Việt Nam là phiên bản thời bình, được bố trí 8 quả tên lửa hạm đối hạm Kh35, dẫn đường bằng quán tính và rađa chủ động, với tầm bắn tối đa 130 km và tốc độ bắn tối đa là 0,9 Mach. Theo kế hoạch sơ bộ, những chiếc Gepard 3.9 thuộc giai đoạn tiếp sẽ được trang bị tên lửa hạm đối hạm siêu âm, có tầm bắn trên 290 km. Điều này giúp lực lượng tên lửa hạm đối hạm của hải quân Việt Nam chiếm được ưu thế rất lớn về kĩ thuật trong khu vực.

Nhược điểm chủ yếu của Gepard 3.9 nằm ở năng lực phòng không. Do được trang bị hệ thống pháo Kashtan-M (tàu khu trục tên lửa 956EM của Trung Quốc chỉ được trang bị hệ thống pháo Kashtan thời kỳ đầu), 2 giàn pháo 6 nòng GSh-30k, mỗi phút có thể bắn 1.000 quả đạn và 32 quả tên lửa hạm đối không 9M311 (SA-N-14) có tầm bắn 8 km, nên Gepard 3.9 chỉ có thể đáp ứng được nhu cầu phòng không mang tính cứ điểm. Trong giai đoạn đầu, Gepard 3.9 chủ yếu được sử dụng trong khu vực tác chiến của Việt Nam để bảo vệ khu vực biển có chiều sâu phòng thủ khoảng 150 km, nơi có thể nhận được sự bảo vệ của cả những quả tên lửa đất đối không tầm xa thuộc hệ thống S300PMU1 đặt căn cứ trên bờ. Để tăng cường năng lực phòng không của Gepard 3.9, hiện nay phương án lợi dụng không gian còn lại ở boong trước để lắp đạt tên lửa hạm đối không phóng theo chiều thẳng đứng Klinok có tầm bắn 12 km đã hoàn thành.

Bên cạnh đó, Gepard 3.9 được trang bị 1 chiếc trực thăng chống ngầm Ka28 (tiên tiến hơn loại Ka28 mà Nga bán cho Trung Quốc, nhờ có thêm hệ thống kết nối thông tin với tàu); hệ thống sonar MGK-335EM-03 có góc quét 260 độ, phát hiện được tàu ngầm ở bán kính từ 10 đến 12 km và thủy lôi ở cự ly 2 km (tương đương hệ thống sonar 1135.6 mà Nga bán cho Ấn Độ để lắp đặt trên tàu khu trục 4.000 tấn) và hai thiết bị phóng ngư lôi cỡ nòng 533 mm. Do vậy, những chiếc Gepard 3.9 không chỉ giúp hải quân Việt Nam kinh nghiệm đầu tiên về việc sử dụng hệ thống sonar cũng như trực thăng chống ngầm trên tàu, mà còn nâng khả năng chống ngầm biển gần của hải quân Việt Nam lên tầm cao mới. Nó cũng cho thấy hải quân Việt Nam coi trọng việc chống ngầm.

Điều thu thút sự chú ý nhất là Gepard 3.9 sử dụng hệ thống chỉ huy, kiểm soát Sigma-E loại mới nhất của Nga, nên những chiếc tàu này đã nhất thể hóa được việc kiểm soát hệ thống hỏa lực. Ngoài ra, nhờ được trang bị hệ thống trinh sát, gây nhiễu điện tử thế hệ mới MP-407E, nên Gepard 3.9 sẽ giúp hải quân Việt Nam nâng cao đáng kể năng lực tác chiến điện tử.

Tuy nhiên, hiện nay người ta vẫn không biết hải quân Việt Nam sẽ bố trí Gepard 3.9 ở đâu. Qua phân tích ảnh vệ tinh, người ta thấy rằng vịnh Cam Ranh (đã có 2 cầu tàu: một dài 200 m, 1 dài 160 m) và Đà Nẵng (Jian Gang) sở hữu những điều kiện tốt nhất để bố trí Gepard 3.9, hơn nữa vị trí lại nằm ở miền Trung. Do đó, rất có khả năng Gepard 3.9 sẽ được bố trí ở cảng biển thuộc hai nơi này.

Nói tóm lại, cùng với tàu ngầm Kilo 636, máy bay chiến đấu đa năng Su30MK2 và tên lửa chống hạm siêu âm Yakhont có tầm bắn 300 km đặt trên bờ, Gepard 3.9 sẽ giúp lực lượng vũ trang Việt Nam chính thức có được năng lực tiến công đa năng 3 trong 1 (trên không, dưới nước và trên mặt nước) ở khu vực biển gần, đặc biệt là việc nâng cao đáng kể khả năng chống ngầm. Đồng thời, với sự phối hợp đó, lực lượng vũ trang Việt Nam cũng cơ bản hình thành được năng lực phòng thủ biển gần tương đối hiệu quả. Năng lực kiểm soát và tấn công của hải quân Việt Nam sẽ mở rộng từ phạm vi 100 km trước đây lên 150-300 km. Nhưng hải quân Việt Nam vẫn thiếu các hệ thống chống ngầm, chống hạm và tác chiến phòng không biển xa./.

HV copy từ vndefence.info
1 ngày có 24 giờ, cho nên trong một két bia sẽ có 24 chai
Hoai Van
Bạn chí cốt QBO
Bạn chí cốt QBO
 
Bài viết: 162
Ngày tham gia: Thứ 3 Tháng 7 10, 2007 10:39 am
Đến từ: Lệ Thủy

Re: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam!

Bài viết chưa xemgửi bởi focus » Thứ 4 Tháng 8 10, 2011 5:20 pm

Hoai Van đã viết:
focus đã viết:Ah, Hải quân mình mới nhận thêm 1 chiếc Gepard 3.9 nữa đấy. Rứa là coi như được 2 chiếc, đỡ túng :hs

Image


........có thể thấy từ nay về sau hải quân Việt Nam đủ sức hình thành ưu thế phi đối xứng đối với hải quân Trung Quốc trên cơ sở sử dụng những chiếc Gepard 3.9.



focus miềng không hiểu cái từ chuyên môn trên :smt016
Hải quân "nước ... nọ" tuy đông nhưng chưa chắc đã mạnh. Mà đông thì bắn dễ trúng nên chẳng sợ gì cả :hs . Giống như trò chơi ném gà nhà hàng xóm thời niên thiếu của chúng ta, ném cả đàn gà dễ trúng hơn ném 1 con gà. chưa nói ném đúng gà mạ thì cả đàn tan tác, gà trống mái hoang mang :smt036 . hihihi.
Ngày xưa ta dùng tên lửa SAMII của Nga để hạ bao nhiêu B52 của Mỹ với giá gấp nhiều lần quả tên lửa. Thời nay ta cũng thế, đầu tư 1 quả tên lửa 1 triệu $ để phá 1 chiếc tàu 30 triệu $ thì quá hiệu quả, quá phù hợp sức mình. Truyền thống đánh giặc của nước ta từ bao đời nay là "lấy yếu địch mạnh" và nó đã được chứng minh là rất hiệu quả trong 4000 năm nay rồi, nghệ thuật đánh giặc của cha anh đấy, bảo bối đấy.
1. Đơn giản không có nghĩa là không đẹp.
2. Cần nói đúng sự thật, lời ton hót chỉ biện hộ cho s gi to <focus>
Hình đại diện của thành viên
focus
Bạn không thể rời QBO
Bạn không thể rời QBO
 
Bài viết: 3476
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 11 23, 2006 4:04 pm
Đến từ: Đồng Hới

Trang trướcTrang kế tiếp

Quay về • Vấn đề & Thảo luận

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến116 khách